Về chánh niệm

Author
Topic
#567

A.S: …Đó chỉ là ý niệm của bạn về chánh niệm (sati) mà thôi. Một cái gì đấy như chánh niệm, nhưng thực chất đó chỉ là ý niệm về chánh niệm, chứ không phải là khoảnh khắc hiểu chánh niệm. Chánh niệm là một pháp hữu vi, do duyên. Dù bạn có cố gắng tới mức nào để có nó đi nữa, vẫn chưa có duyên cho chánh niệm sinh khởi. Nhưng khi có thêm hiểu biết về Giáo lý, nó có thể tạo duyên cho một khoảnh khắc của chánh niệm, và trí tuệ (panna) có thể thấy được sự khác biệt giữa những khoảnh khắc có chánh niệm và những khoảnh khắc không có chánh niệm. Nếu không có hiểu biết ở đó, sẽ chỉ là tưởng là có chánh niệm mà thôi, nhưng thực chất là không có.

Có một sự khác biệt lớn giữa xúc chạm có chánh niệm, và xúc chạm không có chánh niệm. Khi có chánh niệm ở thời điểm xúc chạm, nó phải đi kèm với hiểu biết rằng chánh niệm không phải là tôi. Nó sinh khởi do duyên. Những thứ đó, [bất kể] thời điểm và nơi chốn, đều là đối tượng của khoảnh khắc hiện tại. Như bây giờ chẳng hạn. Đang có sự xúc chạm, nhưng có cái hiểu ở đấy không? Nó sinh khởi do duyên, ai hiểu điều ấy? [hiểu] rằng không có cái ngã nào cả? Hay là vẫn chưa hiểu?

Bởi lẽ, cần phải có hiểu biết đúng về sự vô ngã của tất cả các thực tại trước khi có thể có khoảnh khắc của trí tuệ hiểu rằng không có ai ở đó cả, rằng đó chỉ là một khoảnh khắc kinh nghiệm [đối tượng].

Liệu ai đó có thể đi đến trường thiền để đạt trí tuệ mà không có chút hiểu biết đúng nào về mặt lý thuyết? Nhưng mọi người vẫn đi, vì được giải thích rằng cách thức là như vậy. Nhưng thực chất không phải là thế. Giáo lý không nói như vậy. Không thể có được mức độ trí tuệ trực nhận mà không có [trước đó] hiểu biết ở mức độ tư duy.

Cái gì được thấy hiện giờ?
Trả lời: Cái cây?
AS: Cái cây ư? Nó có thể được thấy không?
Trả lời: Vâng, hay đó là cái cứng nhỉ?
AS: Cái cứng không thể được thấy. Vậy liệu có thể có chánh niệm mà không có hiểu biết được phát triển từ việc nghe và suy xét? Kể cả cái được suy xét vẫn chưa được biết đúng như nó là.
Có thể có suy nghĩ mà không có cái thấy không?

Trả lời: Có ạ.

AS: Và có thể có suy nghĩ sau cái thấy không?

Trả lời: Có ạ

AS: Vậy đâu là sự khác biệt giữa hai cái đó?

Trả lời: Một cái là đối tượng thị giác, còn cái kia là suy nghĩ.

AS: Vì suy nghĩ nghĩ, và cái thấy thấy. Chúng sinh và diệt rất gần nhau. Dường như chúng có cùng một lúc vậy. Nhưng trên thực tế, cái cây không thể được thấy. Chỉ có đối tượng thị giác (cảnh sắc), chỉ có thực tại đó mới có thể được thấy. Chúng ta không cần gọi nó là gì cả, nhưng bất cứ khi nào có cái thấy, nó phải ở đó. Đó là cái có thể được thấy. Sau đó thì có suy nghĩ.

Như vậy sẽ có thêm dần hiểu biết. Chánh niệm bắt đầu sinh khởi một cách yếu ớt, nhưng là sau đó. Hãy hiểu rằng cái được thấy bây giờ chỉ là cái được thấy. Là một thực tại. Không ai có thể làm duyên cho nó sinh khởi. Nó sinh rồi lại diệt.

Chân lý vô cùng vi tế. Con đường Đạo vô cùng vi tế. Bởi vì đó là con đường của sự buông xả. Khi có sự dính mắc vào việc chứng đắc hay không chứng đắc, đó không phải là Đạo nữa, bởi sẽ càng có thêm sự dính mắc. Giáo lý của Đức Phật là đối lập với tham ái và vô minh. Nếu không có hiểu biết đúng từng chút một, không gì có thể tận diệt được vô minh và tham ái. Nghe và suy xét, không chờ đợi, không mong muốn, không cố làm một cái gì đó để có được hiểu biết trực tiếp về các thực tại đang xuất hiện bây giờ, chúng sinh khởi do những duyên riêng của chúng. Điều ấy sẽ giúp hiểu biết tăng trưởng và sâu sắc hơn.

Như cái thấy hiện giờ chẳng hạn. Nếu không có sự bắt đầu của cái hiểu, ở khoảnh khắc của cái thấy, rằng nếu không có cái thấy, cái đang xuất hiện bây giờ sẽ không thể xuất hiện. Vậy thì nó không thể là cái cây, nó không thể là gì khác, mà chỉ là cái được thấy.

Và cái được thấy đó ở đâu? Nếu không có cứng, mềm, tứ đại, nóng, lạnh, không có các duyên, liệu có thể có cái được thấy không? Vì bên cạnh tứ đại – cứng, mềm, nóng, lạnh, chuyển động, co dãn và kết dính, cũng có các thực tại khác sinh khởi cùng chúng, một trong số đó là cái có thể được thấy. Nó tác động lên nhãn căn, và chỉ có cái thấy sinh khởi…Và cũng tương tự như vậy với mùi, vị v.v…Nếu không có [những hiểu biết này], làm sao có thể có sự buông xả với những gì mà ta vẫn cho là thường hằng? Dường như mọi thứ không sinh diệt mà tồn tại một cách kéo dài, luôn có đó, chỉ có trí tuệ, hiểu biết đúng phát triển từ việc nghe và suy xét thấy rằng điều ấy là đúng, điều ấy có thể được kiểm chứng. Và điều ấy có thể được liễu ngộ trực tiếp khi trí tuệ phát triển, chứ không phải là khi “tôi” muốn nó sinh khởi, muốn có chánh niệm hay gì nữa khác. Đó không phải là cách kinh nghiệm bản chất của thực tại. Tuệ giác đối lập với tham ái. Liệu ai đó có thể bớt dính mắc bằng vô minh không? Không thể nào? Tham ái sinh khởi cùng vô minh. Nếu không có hiểu biết đúng, sẽ có vô minh ở đó, và vô minh không thể khiến tham ái giảm đi.

(Trích pháp đàm ngày 04/06/2013, Kaeng Krachan)

Sadhu! Lời dạy nay nhắc nhở thật vô cùng sâu sắc.

“Chân lý vô cùng vi tế. Con đường Đạo vô cùng vi tế. Bởi vì đó là con đường của sự buông xả. Khi có sự dính mắc vào việc chứng đắc hay không chứng đắc, đó không phải là Đạo nữa, bởi sẽ càng có thêm sự dính mắc. Giáo lý của Đức Phật là đối lập với tham ái và vô minh. Nếu không có hiểu biết đúng từng chút một, không gì có thể tận diệt được vô minh và tham ái. Nghe và suy xét, không chờ đợi, không mong muốn, không cố làm một cái gì đó để có được hiểu biết trực tiếp về các thực tại đang xuất hiện bây giờ, chúng sinh khởi do những duyên riêng của chúng. Điều ấy sẽ giúp hiểu biết tăng trưởng và sâu sắc hơn.”

Sati là một thực tại hay biết về thiện pháp, ở những khoảnh khắc chúng ta hay biết về việc mở cửa hay làm gì đó thì không phải là sati. Khi có sati, khoảnh khắc đó là khoảnh khắc của tâm thiện. Trong một ngày có rất ít thiện pháp bởi không có sati sinh khởi để biết cái gì là thiện. Ở những khoảnh khắc của thiện pháp, chẳng hạn như bố thí, ở khoảnh khắc đó có chánh niệm, có thiện pháp. Nhưng đó không phải là “tôi” làm việc thiện, mà chính là sati làm nhiệm vụ biết cái gì là thiện. Ở khoảnh khắc của bố thí, có sati hay biết về thiện pháp là bố thí cho người khác. Ở khoảnh khắc của giữ giới, có sati hay biết về thiện pháp không làm tổn hại đến người khác. Ở khoảnh khắc có từ tâm, có sati hay biết việc không thù hận, không thù địch với những người khác. Ở khoảnh khắc có hiểu biết rằng chưa có cái hiểu về cái đang xuất hiện hiện giờ, có sati cùng với hiểu biết rằng cần phải phát triển hiểu biết. Như vậy, sati – chánh niệm sinh khởi chỉ với tất cả những khoảnh khắc của tâm thiện. Nhưng có nhiều mức độ khác nhau. Ta có thể thấy rằng có những người có thể bố thí một cách dễ dàng và nhanh chóng, đó là bởi họ đã có tích lũy bố thí. Có những người bố thí với những từ không phải là ái ngữ, đó là bởi người đó không có tích lũy để bố thí cùng với ái ngữ. Những khoảnh khắc nói những lời từ ái khác với những khoảnh khắc nói những lời không từ ái. Tất cả những cái đó đều là do duyên, đều vô ngã. Khi có cái hiểu về vô ngã như vậy, ở khoảnh khắc đó cũng có sati nhưng không phải ở mức độ bố thí, trì giới mà có ở mức độ bhavana- phát triển tâm trí. Bất cứ ở khoảnh khắc nào có hiểu biết đúng thì ở khoảnh khắc đó cũng có chánh niệm đi kèm, chúng ta không cần phải muốn có nó. Bởi vì nó luôn sinh khởi cùng với chánh niệm, cho nên bất cứ khi nào có trí tuệ thì đã có chánh niệm ở đó rồi, vì vậy không cần phải nghĩ làm thế nào để có chánh niệm. Tuy nhiên khi không có hiểu biết, sati vẫn có thể sinh khởi, nhưng chỉ với tâm thiện bình thường mà thôi.

  • You must be logged in to reply to this topic.